Mất khả năng thanh toán là gì?

Mất khả năng thanh toán là gì?

Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán (Khoản 1 Điều 4 Luật phá sản 2014).

1. Cơ sở pháp lý

Những vấn đề liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp được quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật sau đây:

  • Luật phá sản số 51/2014/QH13;
  • Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản;
  • Nghị quyết số 03/2016/NĐ-HĐTP ngày 26 tháng 8 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao;

2. Đặc điểm của tình trạng mất khả năng thanh toán

Điều 3 Luật phá sản 2004 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Trong khi đó, Luật phá sản 2014 quy định rạch ròi giữa khái niệm “phá sản” và “mất khả năng thanh toán”, theo đó:

  • Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản (Khoản 2 Điều 4); và
  • Mất khả năng thanh toán là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán (Khoản 1 Điều 4).

Như vậy, chỉ khi Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán mới được coi là ở trong tình trạng phá sản. Hơn nữa, nhà lập pháp đã quy định một giai đoạn chờ là 03 tháng kể từ ngày những khoản nợ liên quan đến hạn, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán nợ và giảm áp lực “đe dọa” phá sản (Điều 42 Luật phá sản 2014). Tình trạng mất khả năng thanh toán là cơ sở để những chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và là căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản. Việc mất khả năng thanh toán không đương nhiên dẫn đến phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

3. Dấu hiệu chứng minh tình trạng mất khả năng thanh toán

Tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán được khoản nợ khi đến  hạn được hiểu như sau:

Thứ nhất, khoản nợ mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán được khi đến hạn là khoản nợ không có bảo đảm. Chỉ khi doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán được khoản nợ không có bảo đảm và bị chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ bảo đảm một phần đòi thì mới xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Thứ hai, doanh nghiệp không thanh toán được khoản nợ trong vòng 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

Thứ ba, không căn cứ vào khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã là ít hay nhiều, mà căn cứ vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã vào thời điểm chủ nợ yêu cầu.

Thứ tư, khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp, hợp tác xã đó không còn tài sản để trả nợ. Doanh nghiệp đó có thể còn hoặc có nhiều tài sản tuy nhiên tài sản đó lại không thể bán để trả nợ được.

https://tuvanltl.com/dich-vu-lam-giay-phep-tu-van-du-hoc/

Trên đây là một số quy định chung nhằm mục đích tham khảo của Tư vấn LTL.

Đừng ngại ngần liên hệ với chúng tôi để được tư vấn miễn phí cho từng trường hợp cụ thể của mình.

Phòng Doanh nghiệp và Đầu tư

Công ty TNHH Tư Vấn & Đầu Tư LTL

HOTLINE: 090.145.1945

Mail: tuvanltl@gmail.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *